Tạp chí Trắc địa - Bản đồ
Loading...

Số báo hiện thời

Số báo hiện thời

Ứng dụng viễn thám và GIS giám sát nhiệt độ bề mặt đất và hiện tượng đảo nhiệt đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Nghiên cứu đánh giá biến động nhiệt độ bề mặt (LST) và hiện tượng đảo nhiệt đô thị (UHI khu vực TP.HCM trước sáp nhập (2015 – 2024) từ dữ liệu Landsat 8, 9 và MODIS. Dữ liệu được xử lý trên nền tảng Google Earth Engine (GEE). Kết quả LST và UHI phân bố không đồng đều, nhiệt độ (>45°C) vùng sân bay và KCN, (40-45°C) vùng nội thành, (35-40°C) vùng đất nông nghiệp (phụ thuộc mùa vụ), (30-35°C) vùng phủ xanh cao, (<30°C) vùng mặt nước và rừng. LST trích tại trạm cao hơn nhiệt độ không khí đo tại trạm 9,15°C (Landsat) và 4,91°C (MODIS); mức tương quan trung bình (R2 = 0,294 - 0,3398); xu hướng LST rất nhỏ. LST trung bình năm nội thành (>36°C), ngoại thành (Landsat: 30 - 36°C, MODIS: 30 - 35°C), Cần Giờ (Landsat: 26 - 34°C, MODIS: 26 - 30°C). LST trung bình năm MODIS thấp hơn Landsat 3,4°C và 11°C vùng đảo nhiệt mạnh. LST trung bình năm giảm dần từ đất đô thị (37-40°C), đất nông nghiệp (34-36°C), đất nuôi trồng thủy sản (31-35°C), đất rừng (29-33°C), mặt nước (<30°C). LST trung bình năm biến động năm 2019 - 2020, có thể liên quan ENSO. UHI mức rất thấp - thấp vùng phủ xanh cao và mặt nước; mức trung bình vùng ngoại thành; mức cao - rất cao vùng nội thành và KCN. Kết quả LST và UHI phụ thuộc chặt chẽ vào mức độ đô thị hóa và lớp sử dụng đất, cung cấp cơ sở cho các giải pháp giảm thiểu UHI và thích ứng với BĐKH trong bối cảnh đô thị hóa gia tăng.

 

Từ khóa: Google Earth Engine, Landsat, MODIS, LST, UHI, Thành phố Hồ Chí Minh 
 

Xem thêm

Đánh giá tác động ngập úng diện rộng ảnh hưởng đến việc sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Đại Huệ, tỉnh Nghệ An bằng công nghệ GIS và viễn thám

Nghiên cứu nhằm xác định phạm vi ngập úng và lượng hóa diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng tại xã Đại Huệ, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2020-2025. Nghiên cứu sử dụng ảnh radar Sentinel-1A để chiết xuất vùng ngập, ảnh quang học Sentinel-2A để thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất và các công cụ GIS để chồng xếp, thống kê diện tích đất nông nghiệp bị ảnh hưởng. Kết quả cho thấy diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị ngập lần lượt là 961,47 ha năm 2020; 553,24 ha năm 2022; 563,29 ha năm 2024 và 690,41 ha năm 2025. Tỷ lệ ảnh hưởng được tính theo diện tích đất nông nghiệp tương ứng từng năm, lần lượt đạt 52,96%; 35,75%; 34,55% và 44,55%. Các khu vực bị ngập tập trung chủ yếu tại phía Tây, Tây Nam, trung tâm phía Đông và một phần phía Nam - Đông Nam của xã, phù hợp với đặc điểm địa hình thấp trũng và điều kiện tiêu thoát nước hạn chế. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở không gian phục vụ khoanh vùng rủi ro, quản lý sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất giải pháp thích ứng với ngập úng tại địa phương. 
 

Xem thêm

Ứng dụng viễn thám và GIS trong đánh giá biến động đường bờ tại thành phố Rạch Giá, giai đoạn 2000 - 2020

Lê Chí Lâm1 , Phạm Trần Minh Quân1 , Võ Thị Kim Anh1 , Trần Thị Huyền 1* 1Địa chỉ: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam Email tác giả liên hệ: huyentran@hcmussh.edu.vn https://doi.org/10.5281/zenodo.21072275 Tóm tắt: Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng toàn cầu, vùng ven biển Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức về xói lở và bồi tụ bờ biển. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá sự biến động đường bờ tại bờ biển thành phố Rạch Giá (tỉnh An Giang) thông qua công nghệ viễn thám bằng nền tảng Google Earth Engine, kết hợp với công nghệ GIS (công cụ DSAS). Trong nghiên cứu, phương pháp ảnh tỷ số MNDWI kết hợp kỹ thuật ngưỡng hóa OTSU được sử dụng cho trích xuất đường bờ dựa trên ảnh vệ tinh Landsat 5 và Landsat 8 đa thời gian trong giai đoạn 2000 – 2020 và sử dụng công cụ DSAS để tính toán, phân tích biến động của đường bờ thông qua các chỉ số SCE, NSM, EPR và LRR trong giai đoạn này. Kết quả nghiên cứu cho thấy đường bờ Rạch Giá có sự biến động mạnh theo hướng bồi tụ, phần lớn tương ứng với các khu vực đô thị lấn biển (chiếm khoảng 88,09% trên tổng chiều dài đường bờ bồi tụ). Cụ thể, tốc độ thay đổi đường bờ trung bình theo EPR của đường bờ Rạch Giá lên đến 6 – 10 m/năm, tốc độ LRR cũng đạt tối đa 11,94 m/năm, cho thấy sự bồi tụ mạnh ở khu vực đường bờ này. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quản lý tổng hợp vùng bờ và quy hoạch phát triển đô thị ven biển bền vững. Từ khóa: Biến động đường bờ, Rạch Giá, MNDWI, OTSU, DSAS, Google Earth Engine.

Xem thêm

Ứng dụng GIS trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng dự án sửa chữa, nâng cấp đường tỉnh lộ 7, đoạn qua xã An Nhơn Tây, Thành phố Hồ Chí Minh

Là một quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, Việt Nam với đặc điểm địa hình phức tạp và chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa thường xuyên đối mặt với nguy cơ trượt lở đất đá. Tần suất, quy mô và mức độ thiệt hại của các vụ trượt lở ngày càng trầm trọng do sự gia tăng của các hiện tượng mưa lớn kéo dài, thời tiết cực đoan và tác động từ các hoạt động nhân sinh, gây ra mối đe dọa trực tiếp đến đời sống, cơ sở hạ tầng và an sinh xã hội. Trước bối cảnh trên, nghiên cứu này được thực hiện nhằm ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS), kết hợp với phương pháp Phân tích đa tiêu chí (AHP), để đánh giá toàn diện các yếu tố ảnh hưởng và xây dựng bản đồ nguy cơ trượt lở đất tại tỉnh Quảng Bình. Kết quả của nghiên cứu góp phần cung cấp một cơ sở khoa học cho công tác cảnh báo, quy hoạch lãnh thổ và quản lý rủi ro thiên tai một cách hiệu quả, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
 

 
 
Xem thêm

Xây dựng bản đồ nguy cơ trượt lở đất tỉnh Quảng Bình bằng phương pháp phân tích đa tiêu chí (AHP) tích hợp GIS và ảnh viễn thám

                                                                                                                                                                                                 Nguyễn Hồng Phúc1, Tống Thị Hạnh1* , Nguyễn Thị Thu Nga1

                                                                                                                                                                                                                                        1Trường Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn

                                                                                                                                                                                                                             Email tác giả liên hệ: tonghanh@lqdtu.edu.vn

Là một quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, Việt Nam với đặc điểm địa hình phức tạp và chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa thường xuyên đối mặt với nguy cơ trượt lở đất đá. Tần suất, quy mô và mức độ thiệt hại của các vụ trượt lở ngày càng trầm trọng do sự gia tăng của các hiện tượng mưa lớn kéo dài, thời tiết cực đoan và tác động từ các hoạt động nhân sinh, gây ra mối đe dọa trực tiếp đến đời sống, cơ sở hạ tầng và an sinh xã hội. Trước bối cảnh trên, nghiên cứu này được thực hiện nhằm ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS), kết hợp với phương pháp Phân tích đa tiêu chí (AHP), để đánh giá toàn diện các yếu tố ảnh hưởng và xây dựng bản đồ nguy cơ trượt lở đất tại tỉnh Quảng Bình. Kết quả của nghiên cứu góp phần cung cấp một cơ sở khoa học cho công tác cảnh báo, quy hoạch lãnh thổ và quản lý rủi ro thiên tai một cách hiệu quả, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.
 

 
 
Xem thêm