Tạp chí Trắc địa - Bản đồ
Loading...

Số báo hiện thời

Số báo hiện thời

Đánh giá nguy cơ tổn thương đới bờ biển khu vực Sóc Trăng - Bạc Liêu

Tóm tắt: Vùng ven biển Sóc Trăng - Bạc Liêu là một trong những khu vực có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời cũng là khu vực chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và quá trình xói lở bờ biển. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp chỉ số tổn thương bờ biển (Coastal Vulnerability Index - CVI) để đánh giá mức độ tổn thương đới bờ trên cơ sở tích hợp sáu yếu tố thành phần gồm: địa mạo bờ biển, biến động đường bờ, độ dốc bờ biển, mực nước biển dâng, biên độ triều trung bình và chiều cao sóng. Kết quả cho thấy khu vực nghiên cứu có sự phân hóa rõ rệt về mức độ tổn thương. Trong tổng chiều dài khoảng 127,7 km đường bờ biển, có 50,82 km thuộc nhóm tổn thương cao và rất cao (39,70%), 39,66 km thuộc nhóm tổn thương trung bình (30,98%), 20,54 km thuộc nhóm tổn thương thấp (16,05%) và 16,68 km thuộc nhóm tổn thương rất thấp (13,27%). Các khu vực có mức độ tổn thương cao tập trung chủ yếu tại ven biển thị xã Vĩnh Châu (Sóc Trăng), khu vực Đông Hải và Gành Hào (Bạc Liêu), nơi có địa hình thấp, độ dốc nhỏ, tốc độ xói lở lớn và chịu tác động mạnh của sóng gió mùa. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác quản lý tổng hợp vùng bờ, thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển và xây dựng các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng tại khu vực ven biển Sóc Trăng - Bạc Liêu. Từ khóa: Chỉ số tổn thương bờ biển (CVI); xói lở bờ biển; biến đổi khí hậu; nước biển dâng; Sóc Trăng - Bạc Liêu.

Xem thêm

Mô hình mạng đồng hồ nguyên tử quang để thống nhất hệ độ cao Châu Á

Tóm tắt: Một trong những nhiệm vụ cơ bản của ngành trắc địa là làm sao để thống nhất hệ độ cao của các quốc gia trên toàn thế giới hoặc trong khu vực. Việc này sẽ giúp cho quá trình nghiên cứu các dự án liên quốc gia, liên châu lục như sự dâng lên của mực nước biển, hoặc các công trình xây dựng liên quốc gia sẽ đảm bảo được độ chính xác. Tuy nhiên, các phương pháp truyền thống như thủy chuẩn hình học sẽ không thực hiện được vì quá tốn kém về thời gian và kinh phí. Một trong những hướng nghiên cứu mới gần đây là ứng dụng trắc địa tương đối tính để thống nhất hệ độ cao toàn cầu. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả xây dựng một mô hình thống nhất hệ độ cao Châu Á bằng mạng lưới đồng hồ nguyên tử quang học độ chính xác cao. Kết quả mô phỏng cho thấy có thể thống nhất hế thống độ cao Châu Á với độ chính xác ở mức 2 ÷ 3cm. Đây là một kết quả khả quan cho các nghiên cứu thực tế tiếp theo. Từ khóa: Trắc địa tương đối tính; Hệ độ cao toàn cầu; Đồng hồ nguyên tử; Cáp quang

Xem thêm

Đánh giá tiềm năng của dữ liệu LiDAR không gian trong ước tính chiều cao công trình đô thị tại Hà Nội

Tóm tắt: Nghiên cứu này khẳng định tiềm năng của dữ liệu LiDAR không gian từ hai hệ thống cảm biến ICESat-2 và GEDI trong việc tự động hóa trích xuất và ước tính chiều cao cấu trúc công trình tại khu vực nội thành Hà Nội. Quy trình công nghệ được thiết lập dựa trên sự tích hợp dữ liệu ranh giới nền công trình kết hợp quy trình lọc nhiễu đám mây điểm để phân loại chính xác các điểm phản hồi từ mái công trình và mặt đất tham chiếu. Dựa trên bộ dữ liệu nghiệm chứng gồm 200 điểm đo thực địa, kết quả phân tích thống kê cho thấy dữ liệu dạng sóng toàn vẹn của GEDI đạt độ tin cậy cao với hệ số xác định R2 = 0.89, trong khi công nghệ đếm photon của ICESat-2 thể hiện ưu thế về độ phân giải không gian dải quét chi tiết với R2 = 0.86. Kết quả nghiên cứu khẳng định ưu thế của nguồn dữ liệu ICEsat-2 và GEDI có thể bổ trợ cho các phép đo thực địa. Nghiên cứu mở ra triển vọng ứng dụng quy mô lớn cho việc tối ưu hóa công tác quy hoạch, giám sát động thái phát triển kiến trúc và đẩy nhanh tiến trình xây dựng cơ sở dữ liệu đô thị 3D tại các siêu đô thị ở Việt Nam hiện nay. Từ khóa: LiDAR không gian, ICESat-2, GEDI, chiều cao công trình, cơ sở dữ liệu 3D, Hà Nội.

Xem thêm

Nghiên cứu biến động hình thái không gian và các yếu tố chi phối các đảo nổi lớn thuộc quần đảo Trường Sa từ dữ liệu ảnh viễn thám đa thời gian

Tóm tắt: Biến động hình thái các đảo san hô phản ánh sự tương tác giữa động lực biển, đặc điểm địa hình rạn và các hoạt động nhân sinh, đồng thời là cơ sở quan trọng phục vụ quản lý tài nguyên và không gian biển đảo. Nghiên cứu này sử dụng chuỗi ảnh vệ tinh đa nguồn gồm SPOT-2, SPOT-4, Landsat-8 và Sentinel-2 tại các thời điểm năm 2007, 2012, 2017 và 2022 để đánh giá biến động hình thái không gian của năm đảo nổi lớn thuộc quần đảo Trường Sa gồm Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn và Trường Sa Lớn. Đường bờ được trích xuất từ ảnh viễn thám sau khi hiệu chỉnh hình học và chuẩn hóa dữ liệu, sau đó tích hợp trong môi trường GIS và phân tích bằng phần mềm Digital Shoreline Analysis System (DSAS). Bốn chỉ số định lượng gồm tốc độ thay đổi chiều dài đường bờ (Length Change Rate – LCR), tốc độ thay đổi diện tích đảo (Area Change Rate – ACR), tốc độ dịch chuyển trọng tâm (Centroid Shift Rate – CSR) và tốc độ biến động đường bờ (End Point Rate – EPR) được sử dụng để đánh giá xu thế biến đổi hình thái của từng đảo. Kết quả cho thấy tất cả các đảo đều có xu hướng mở rộng diện tích trong giai đoạn nghiên cứu, tuy nhiên mức độ biến động khác nhau đáng kể giữa các đảo. Đảo Sơn Ca có tốc độ tăng diện tích lớn nhất với ACR đạt 27,79 m²/năm, trong khi Song Tử Tây chỉ đạt 3,65 m²/năm. Chiều dài đường bờ cũng gia tăng ở hầu hết các đảo với LCR dao động từ 0,12 đến 3,76 m/năm, phản ánh quá trình phát triển không đồng đều của hình thái đảo. Chỉ số CSR cho thấy trọng tâm các đảo dịch chuyển theo nhiều hướng khác nhau, trong đó Trường Sa Lớn có mức dịch chuyển lớn nhất, phản ánh sự phát triển bất đối xứng của hình thái đảo. Phân tích EPR xác định các khu vực xói lở và bồi tụ tập trung chủ yếu tại các đoạn bờ chịu tác động trực tiếp của sóng và dòng chảy theo mùa. Kết quả tổng hợp cho thấy chế độ sóng gió mùa, vận chuyển trầm tích, cấu trúc rạn san hô và hoạt động cải tạo đảo là những yếu tố chi phối chính đối với quá trình biến động hình thái của các đảo nổi thuộc quần đảo Trường Sa. Nghiên cứu khẳng định hiệu quả của việc tích hợp dữ liệu ảnh viễn thám đa thời gian, GIS và DSAS trong giám sát biến động hình thái đảo san hô, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học phục vụ cập nhật cơ sở dữ liệu địa lý, quản lý tài nguyên và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Từ khóa: Quần đảo Trường Sa; biến động hình thái; viễn thám đa thời gian; DSAS; LCR; ACR; CSR; EPR.

Xem thêm

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và viễn thám trong đánh giá thoái hoá đất hiện đại

Tó m tắ t: Đánh giá thoái hóa đất theo quy định hiện hành dựa trên điều tra, lấy mẫu thực địa và khoanh
vẽ theo đơn vị đất nên khó đáp ứng yêu cầu giám sát liên tục, chi tiết và trên diện rộng. Nghiên cứu này
luận giải cơ sở khoa học của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI) kết hợp viễn
thám để suy giải các chỉ số, hệ số phục vụ đánh giá 06 loại hình thoái hóa đất. Kết quả chính gồm: làm
rõ bản chất bài toán dưới dạng tương quan phi tuyến giữa đặc trưng phổ, điều kiện tự nhiên và mẫu
phân tích đất; đề xuất khung biến đặc trưng đa nguồn cùng dạng tổng quát của bộ mẫu huấn luyện; xác
lập quy trình huấn luyện, đánh giá mô hình và lập bản đồ phù hợp với khung pháp lý 06 loại hình. Trên
cơ sở tổng hợp bằng chứng quốc tế, nghiên cứu chỉ ra các họ mô hình phù hợp với từng loại hình thoái
hóa, trong đó các mô hình rừng ngẫu nhiên và tăng cường gradient thường đạt hiệu suất cao và ổn định
với dữ liệu đa nguồn, làm cơ sở triển khai theo hướng tự động hóa, cập nhật thường xuyên và áp dụng
theo quy mô tỉnh, vùng và quốc gia.
Từ khóa: Thoái hóa đất, Đánh giá thoái hóa đất, Trí tuệ nhân tạo, Viễn thám, Học máy, Học sâu.

Xem thêm

Ứng dụng viễn thám và GIS giám sát nhiệt độ bề mặt đất và hiện tượng đảo nhiệt đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Nghiên cứu đánh giá biến động nhiệt độ bề mặt (LST) và hiện tượng đảo nhiệt đô thị (UHI khu vực TP.HCM trước sáp nhập (2015 – 2024) từ dữ liệu Landsat 8, 9 và MODIS. Dữ liệu được xử lý trên nền tảng Google Earth Engine (GEE). Kết quả LST và UHI phân bố không đồng đều, nhiệt độ (>45°C) vùng sân bay và KCN, (40-45°C) vùng nội thành, (35-40°C) vùng đất nông nghiệp (phụ thuộc mùa vụ), (30-35°C) vùng phủ xanh cao, (<30°C) vùng mặt nước và rừng. LST trích tại trạm cao hơn nhiệt độ không khí đo tại trạm 9,15°C (Landsat) và 4,91°C (MODIS); mức tương quan trung bình (R2 = 0,294 - 0,3398); xu hướng LST rất nhỏ. LST trung bình năm nội thành (>36°C), ngoại thành (Landsat: 30 - 36°C, MODIS: 30 - 35°C), Cần Giờ (Landsat: 26 - 34°C, MODIS: 26 - 30°C). LST trung bình năm MODIS thấp hơn Landsat 3,4°C và 11°C vùng đảo nhiệt mạnh. LST trung bình năm giảm dần từ đất đô thị (37-40°C), đất nông nghiệp (34-36°C), đất nuôi trồng thủy sản (31-35°C), đất rừng (29-33°C), mặt nước (<30°C). LST trung bình năm biến động năm 2019 - 2020, có thể liên quan ENSO. UHI mức rất thấp - thấp vùng phủ xanh cao và mặt nước; mức trung bình vùng ngoại thành; mức cao - rất cao vùng nội thành và KCN. Kết quả LST và UHI phụ thuộc chặt chẽ vào mức độ đô thị hóa và lớp sử dụng đất, cung cấp cơ sở cho các giải pháp giảm thiểu UHI và thích ứng với BĐKH trong bối cảnh đô thị hóa gia tăng.

 

Từ khóa: Google Earth Engine, Landsat, MODIS, LST, UHI, Thành phố Hồ Chí Minh 
 

Xem thêm