Tạp chí Trắc địa - Bản đồ
Loading...

Số báo hiện thời

Số báo hiện thời

Thành lập bản đồ số 360 độ với trang web giới thiệu sản phẩm nhà màng cải tiến trồng hoa, quả và rau an toàn gắn với du lịch sinh thái, trải nghiệm tại tỉnh Thái Bình - Việt Nam

Tóm tắt:

               Trong bài báo này, chúng tôi mô tả việc thành lập bản đồ 360 độ kết hợp với trang web quảng bá giới thiệu sản phẩm, là kết quả của một đề tài khoa học “Nghiên cứu xây dựng mô hình nhà màng, nhà lưới cải tiến và trồng hoa, quả, rau an toàn gắn với du lịch sinh thái, trải nghiệm tại tỉnh Thái Bình.Mã số: TB-CT/NN07/24-25”. Mục tiêu của đề tài là xây dựng mô hình 500 m2 nhà màng, nhà lưới cải tiến chống gió bão và di dời được (chế tạo tổ hợp kết cấu gồm khung giàn, móc ngoàm thép kết nối, màng ni lông che phủ tạo thành nhà khép kín) tại xã Trung An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình; trồng hoa, quả và rau an toàn, có áp dụng công nghệ dùng phân bón vi sinh, công nghệ tưới tự động, giám sát môi trường thời tiết, đất trồng bằng các cảm biến intemet vạn vật loT, gắn với du lịch sinh thái, trải nghiệm và quảng bá giới thiệu sản phẩm.

Từ khóa: Nhà màng, nhà lưới, bản đồ 360 độ, du lịch sinh thái trải nghiệm, móc ngoàm, gió bão, phân bón vi sinh, tưới tự động, Internet vạn vật, IoT, camera giám sát.

Ngày nhận bài: 16/03/2025

Ngày sửa lại:   03/04/2025

  Ngày chấp nhận đăng: 05/04/2025

      Ngày xuất bản: 14/04/2025

 

Xem thêm

Ứng dụng viễn thám và công nghệ GIS trong xây dựng cơ sở dữ liệu hệ thống giao thông: Nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Sơn La, Việt Nam

Tóm tắt:

Việc xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) hệ thống giao thông đóng vai trò quan trọng trong quản lý và quy hoạch phát triển hạ tầng giao thông, đặc biệt ở khu vực miền núi, nơi có địa hình phức tạp như tỉnh Sơn La.Nghiên cứu này ứng dụng ảnh viễn thám (Sentinel-2, Landsat-8 và ảnh quang học độ phân giải cao) kết hợp Hệ thống thông tin địa lý (GIS) để xây dựng CSDL hệ thống giao thông cho khu vực nghiên cứu. Thông qua các bước tiền xử lý ảnh, phân loại có giám sát và trích xuất thông tin không gian, hệ thống CSDL gồm các lớp: đường giao thông, cầu – hầm, và điểm giao thông trọng yếu đã được thiết lập. Kết quả so sánh với dữ liệu thực địa cho thấy độ chính xác đạt 89%, trong đó lớp đường giao thông đạt 91,3%. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hệ thống CSDL GIS có khả năng cung cấp thông tin chi tiết về mạng lưới giao thông, hỗ trợ đánh giá và quy hoạch hệ thống đường bộ tại các khu vực miền núi.

Từ khóa: Viễn thám, GIS, cơ sở dữ liệu giao thông, quản lý hạ tầng giao thông, Sơn La.

Ngày nhận bài: 14/03/2025

Ngày sửa lại: 28/03/2025

Ngày chấp nhận đăng: 31/03/2025

Ngày xuất bản:14 /04/2025

 
Xem thêm

Phương pháp tính chuyển dữ liệu độ sâu đáy biển từ hệ quy chiếu quốc tế sang hệ quy chiếu tọa độ, độ cao quốc gia

Tóm tắt:

Mục đích của nghiên cứu này là đưa ra phương pháp tính chuyển dữ liệu độ sâu đáy biển từ hệ quy chiếu quốc tế sang hệ quy chiếu tọa độ, độ cao quốc gia Việt Nam. Các mô hình độ sâu đáy biển toàn cầu có độ vĩ (B), độ kinh (L) của điểm trong hệ WGS-84 và độ sâu so với mặt biển trung bình quốc tế (DQT). Để tính chuyển sang hệ tọa độ VN2000 và độ sâu quốc gia thì cần phải xác định được độ cao trắc địa (H) của điểm trong WGS-84 và chênh lệch giữa mặt biển trung bình của Việt Nam và mặt biển trung bình quốc tế. Độ cao trắc địa này được xác định dựa vào độ cao geoid quốc tế từ mô hình EIGEN6C4; độ cao mặt biển trung bình quốc tế DTU15MDT và độ sâu quốc tế của điểm. Chênh lệch giữa hai mặt biển trung bình quốc gia và quốc tế được xác định dựa vào số liệu tại 31 trạm nghiệm triều của Việt Nam. Sau khi có được đầy đủ các thành phần tọa độ trong WGS84, tọa độ được tính chuyển bằng công thức Bursa-Wolf với 7 tham số chuyển đổi tọa độ giữa WGS-84 và VN2000. Thực nghiệm được tính toán đối với mô hình độ sâu GEBCO2022 trên khu vực giữa Biển Đông.

 

Từ khóa:Mô hình GEBCO2022, Độ sâu đáy biển, Mặt biển trung bình, Chuyển dữ liệu độ sâu đáy biển.

Ngày nhận bài: 16/03/2025

Ngày sửa lại: 01/04/2025

Ngày chấp nhận đăng: 02/04/2025

Ngày xuất bản:14/04/2025

 

Xem thêm

Sụt lún đất tại thành phố Hồ Chí Minh, nguy cơ và thách thức cho sự phát triển bền vững của thành phố Hồ Chí Minh

Xem thêm

Phân tích sự thay đổi lớp phủ và ảnh hưởng đến nhiệt độ bề mặt từ hoạt động phát triển sân golf ở Hà Nội bằng viễn thám

Tóm tắt:

               Quá trình đô thị hóa dẫn đến những thay đổi đáng kể trong việc sử dụng đất, tác động trực tiếp đến các điều kiện khí hậu địa phương, đặc biệt là nhiệt độ bề mặt (LST). Một trong những hình thức sử dụng đất đang ngày càng được mở rộng là các sân golf, đòi hỏi diện tích lớn và thường thay thế các khu vực phủ thực vật tự nhiên. Điều này dẫn đến sự mất cân bằng năng lượng bề mặt và làm biến đổi môi trường nhiệt khu vực. Nghiên cứu này sử dụng tư liệu viễn thám để phân tích tác động của việc thay đổi lớp phủ bề mặt (LULC) đến nhiệt độ bề mặt trong bối cảnh mở rộng các sân golf tại Hà Nội giai đoạn từ năm 1989 - 2023. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là (i) đánh giá sự thay đổi LULC và mở rộng sân golf; (ii) tính toán LST; và (iii) phân tích mối quan hệ giữa LULC và LST trong các năm 1989, 1999, 2009, 2020 và 2023. Kết quả cho thấy, sự suy giảm liên tục của diện tích che phủ thực vật theo thời gian, trong khi các khu vực xây dựng và đất trống có xu hướng gia tăng rõ rệt từ năm 1989 đến 2023. Các khu vực trung tâm thành phố, nơi có mật độ xây dựng cao và ít cây xanh, ghi nhận mức nhiệt độ bề mặt cao nhất. Đặc biệt, quá trình chuyển đổi đất thành sân golf cũng góp phần làm gia tăng LST, tùy thuộc vào loại hình phủ bề mặt trước đó. Phân tích thống kê giữa các khu vực bên trong và bên ngoài sân golf cho thấy sự khác biệt rõ rệt về LST, phản ánh mức độ ảnh hưởng của việc phát triển sân golf. Những phát hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tích hợp yếu tố nhiệt vào quy hoạch đô thị, hướng tới sự phát triển bền vững trong bối cảnh đô thị hóa diễn ra nhanh chóng.

Từ khóa: Sân golf; Viễn thám; Thay đổi sử dụng và lớp phủ bề mặt đất (LULC); Nhiệt độ bề mặt (LST); Đô thị hóa; Hà Nội

Xem thêm