Chuẩn hóa thuật ngữ chuyên ngành
Loading...
Tạp chí Trắc địa - Bản đồ

Chuẩn hóa thuật ngữ chuyên ngành

 

Trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc và ngành Trắc địa – Bản đồ – Viễn thám Việt Nam cũng đồng hành cùng đất nước, hội nhập mạnh mẽ với khoa học – công nghệ quốc tế, việc dịch và sử dụng thống nhất các thuật ngữ chuyên ngành là yêu cầu cấp thiết. 

Tags: 

 
  • Chia sẻ qua viber bài: Chuẩn hóa thuật ngữ chuyên ngành
  • Chia sẻ qua reddit bài:Chuẩn hóa thuật ngữ chuyên ngành

Sự cần thiết của việc chuẩn hóa thuật ngữ chuyên ngành

Trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc và ngành Trắc địa – Bản đồ – Viễn thám Việt Nam cũng đồng hành cùng đất nước, hội nhập mạnh mẽ với khoa học – công nghệ quốc tế, việc dịch và sử dụng thống nhất các thuật ngữ chuyên ngành là yêu cầu cấp thiết. Hiện chưa có thống kê cụ thể, tuy nhiên nhiều chuyên gia cho rằng, nếu không chuẩn hóa từ ngữ, chúng ta dễ rơi vào tình trạng “loạn thuật ngữ”, gây khó khăn cho đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng và cả trong công tác quản lý nhà nước... Chúng tôi có thông tin trao đổi ngắn với một số nhà khoa học trong lĩnh vực Trắc địa – Bản đồ -Viễn thám Việt Nam, và được tóm lược với các nội dung chính dưới đây.

Trong thực tế hiện nay, đối với lĩnh vực Trắc địa – Bản đồ – Viễn thám Việt Nam dịch các thuật ngữ khoa học đã và đang có nhiều cách dịch khác nhau và rất nhiều lúc đặt trong các câu, các ngữ cảnh khác nhau làm cho ý nghĩa không được phù hợp, chưa chuẩn xác trong các báo cáo của ngành và cả trong các tài liệu khoa học được công bố rộng rãi. Một số thuật ngữ hiện đang được dịch, hiểu theo nhiều ý nghĩa còn chưa đúng với lĩnh vực Trắc địa – Bản đồ - Viễn thám có thể kể đến như:

- Geomatic: là thuật ngữ đầu tiên được GS. Bernard Dubuisson (Pháp), một Trắc địa sư người Pháp, đề xuất vào thập niên 60 của thế kỷ trước thay cho ngành Trắc địa Bản đồ trong xu thế phát triển của ngành. Ngày nay  nhiều nước châu Âu, Bắc Mỹ dùng để chỉ ngành kỹ thuật tổng hợp về Trắc địa - Bản đồ - Viễn thám và Xử lý dữ liệu không gian. Ở Việt Nam, có những tài liệu đã dịch và đang có xu hướng dịch thành Địa tin học (Geomatics ≈ Geoinformation Science). Nhưng cũng có các tài liệu dịch thuật ngữ này với ý nghĩa khác như là Địa thông tin...

- Geoinformatic/Geoinformatics: được nhiều tác giả cho rằng thuật ngữ này nhấn mạnh vào ngành khoa học thuộc lĩnh vực khoa học dữ liệu địa lý, bao gồm hệ thống thông địa lý GIS, cơ sở dữ liệu không gian, xử lý, phân tích, mô hình hóa và trực quan hóa dữ liệu. Thuật ngữ Việt hóa được nhiều người chấp nhận là Địa thông tin. Tuy nhiên vẫn có không ít tác giả sử dụng thuật ngữ là Thông tin địa học, Thông tin địa không gian...

- Geospatial: là thuật ngữ được dùng phổ biến trong Khối Thịnh vượng chung (gồm Anh, Úc, Ấn độ, Malaysia….). Các nước này dùng thuật ngữ Geospatial thay cho Geomatics và Geoinformatics hiện có nhiều cách dịch, trong đó “Không gian địa lý” và “Thông tin địa học” đang bị lạm dụng. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, đây là cách dịch sai bản chất. “Geospatial” không đơn thuần chỉ về “không gian” hay “địa lý” mà là toàn bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ thu thập, lưu trữ, phân tích, mô hình hóa, trực quan hóa dữ liệu địa lý và ứng dụng liên quan đến dữ liệu địa lý từ khoảng không vũ trụ đến bề mặt trái đất và trong lòng đất. Vì vậy, các nhà khoa học cho rằng cách dịch đúng và phù hợp nhất là Địa không gian.

Are you a Geospatial engineer or Geomatic engineer ?
Hình ảnh có tính minh họa Geo… (nguồn Internet)

Với các thuật ngữ trên, PGS.TS. Lê Trung Chơn, là giảng viên tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh, nhà khoa học có uy tín trong và ngoài nước chia sẻ rằng: “Cần hết sức tránh việc dịch Geospatial thành ‘Không gian địa lý’. Đây là cách hiểu sai lệch, không phản ánh đúng bản chất của ngành. Tôi kiên quyết sử dụng ‘Địa không gian’ trong các bài giảng và công trình nghiên cứu của mình.”. Ngoài ra, PGS.TS. Lê Trung Chơn cũng lưu ý một vấn đề lâu nay: cần dứt khoát loại bỏ cách gọi ‘Trắc đạc’. Trong tiếng Việt chuẩn không có từ này. Cần sử dụng đúng là ‘Trắc địa’.”

Cùng chung với quan điểm trên, nhà giáo Ưu tú, GS.TS. Võ Chí Mỹ (Hội Trắc địa – Bản đồ - Viễn thám Việt Nam), là một nhà khoa học lâu năm và có uy tín, có ảnh hưởng nhiều về khoa học trong lĩnh vực Trắc địa – Bản đồ - Viễn thám nhấn mạnh: “Chúng ta phải thống nhất cách dùng thuật ngữ. Nếu ngay trong giới chuyên môn còn mỗi người một cách gọi, thì sinh viên, độc giả và xã hội sẽ càng lúng túng.”. Để các cộng đồng những người làm khoa học-công nghệ có thêm ý kiến tham khảo, GS.TS. Võ Chí Mỹ  chia sẻ thêm thông tin: một số thuật ngữ nước ngoài (tiếng latinh, tiếng slavo hoặc tiếng Anh) có tiếp đầu ngữ là Geo- đều được dịch sang tiếng Việt Nam là “Địa” thể hiện sự liên quan đến Trái đất, ví dụ: Geology = Địa chất; Geophysics = Địa vật lý, Geomorphology = Địa mạo, Geosejsmology= Địa chấn; Geomechanics = Địa cơ, Geopolitics= Địa chính trị, Geoeconomics = Địa kinh tế v.v

Ngoài ra cũng có nhiều chuyên gia, các nhà khoa học đồng quan điểm với các ý kiến trên và từ đó PGS. TS Lê Trung Chơn, GS. TS Võ Chí Mỹ đưa ra khuyến nghị cần thiết sử dụng các thuật ngữ một cách chuẩn xác. Thống nhất cách sử dụng thuật ngữ trong quản lý nhà nước, đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng đối với lĩnh vực Trắc địa – Bản đồ – Viễn thám tại Việt Nam:

- “Geospatial” dịch thống nhất là “Địa không gian”.

- “Geomatic” dịch thống nhất là “Địa tin học”.

- “Geoinformatic/Geoinformatics” dịch thống nhất là “Địa thông tin”.

- Thống nhất sử dụng thuật ngữ “Trắc địa” thay cho từ không chính xác “Trắc đạc”.

Các thuật ngữ sai lệch như “Không gian địa lý”, “Thông tin địa học” không được sử dụng trong các văn bản, báo cáo và các bài báo khoa học.

Đề nghị toàn thể hội viên Hội Trắc địa – Bản đồ - Viễn thám Việt Nam, các nhà khoa học, giảng viên và cơ quan chuyên môn thống nhất sử dụng các thuật ngữ để đảm bảo tính chuẩn mực, hội nhập và phát triển của ngành.

PV: Đặng Thanh Tùng

THÔNG TIN, KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ

Không có thông tin cho loại dữ liệu này