Tạp chí Trắc địa - Bản đồ
Loading...

Số báo hiện thời

Số báo hiện thời

Đánh giá mức độ thích hợp đất đai phục vụ phát triển sản xuất cây Cà gai leo trên địa bàn xã Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi

Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá mức độ thích hợp đất đai cho phát triển cây cà gai leo trên địa bàn xã Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch và phát triển vùng trồng dược liệu theo hướng bền vững. Trên cơ sở khung đánh giá đất đai của FAO kết hợp với phương pháp phân tích thứ bậc mờ (Fuzzy-AHP) và hệ thống thông tin địa lý (GIS), nghiên cứu đã xây dựng bản đồ đơn vị đất đai thông qua chồng xếp các lớp thông tin gồm loại đất, thành phần cơ giới, tầng dày đất, độ dốc và chế độ tưới. Trọng số các tiêu chí được xác định bằng phương pháp Fuzzy-AHP, các lớp dữ liệu được chuẩn hóa theo lý thuyết tập mờ và tích hợp trong môi trường GIS để thành lập bản đồ phân hạng thích hợp đất đai. Kết quả đánh giá trên diện tích 11.698,02 ha cho thấy đất đai tại xã Ba Tơ được phân thành bốn cấp thích hợp bao gồm rất thích hợp (S1), thích hợp trung bình (S2), ít thích hợp (S3) và không thích hợp (N). Các yếu tố hạn chế chủ yếu đối với phát triển cây cà gai leo là loại đất, tầng dày đất và thành phần cơ giới. Kết quả nghiên cứu đã xác định được các khu vực có tiềm năng phát triển cây cà gai leo, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho công tác quy hoạch sử dụng đất, bố trí không gian sản xuất và phát triển vùng dược liệu theo hướng hiệu quả và bền vững tại xã Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. 
 

Xem thêm

Đánh giá tác động ngập úng diện rộng ảnh hưởng đến việc sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Đại Huệ, tỉnh Nghệ An bằng công nghệ GIS và viễn thám

Nghiên cứu nhằm xác định phạm vi ngập úng và lượng hóa diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng tại xã Đại Huệ, tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2020-2025. Nghiên cứu sử dụng ảnh radar Sentinel-1A để chiết xuất vùng ngập, ảnh quang học Sentinel-2A để thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất và các công cụ GIS để chồng xếp, thống kê diện tích đất nông nghiệp bị ảnh hưởng. Kết quả cho thấy diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị ngập lần lượt là 961,47 ha năm 2020; 553,24 ha năm 2022; 563,29 ha năm 2024 và 690,41 ha năm 2025. Tỷ lệ ảnh hưởng được tính theo diện tích đất nông nghiệp tương ứng từng năm, lần lượt đạt 52,96%; 35,75%; 34,55% và 44,55%. Các khu vực bị ngập tập trung chủ yếu tại phía Tây, Tây Nam, trung tâm phía Đông và một phần phía Nam - Đông Nam của xã, phù hợp với đặc điểm địa hình thấp trũng và điều kiện tiêu thoát nước hạn chế. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở không gian phục vụ khoanh vùng rủi ro, quản lý sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất giải pháp thích ứng với ngập úng tại địa phương. 
 

Xem thêm

So sánh hiệu quả các thuật toán Random Forest, SVM và Naive Bayes trong phân loại lớp phủ bề mặt sử dụng dữ liệu Sentinel-2 trên Google Earth Engine: Trường hợp nghiên cứu tại khu vực Thái Nguyên, Việt Nam

Lê Duy Thành1, Trịnh Thị Hoài Thu1*, Bùi Thị Hồng Thắm1 , Trịnh Thị Loan2

 

1Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Hà Nội, Việt Nam 2Công ty cổ phần khảo sát đo đạc và thiết kế Hưng Bình, Hà Nội, Việt Nam

 

Email tác giả liên hệ: tththu@hunre.edu.vn https://doi.org/10.5281/zenodo.xxxxxxxx

 

Tóm tắt:

 

Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả của ba thuật toán học máy gồm Random Forest (RF), Support Vector Machine (SVM) và Naive Bayes (NB) trong phân loại lớp phủ bề mặt từ dữ liệu ảnh vệ tinh Sentinel-2 tại tỉnh Thái Nguyên. Dữ liệu ảnh được xử lý trên nền tảng Google Earth Engine (GEE), kết hợp các kênh phổ, chỉ số phổ, yếu tố địa hình và đặc trưng kết cấu ảnh để xây dựng tập dữ liệu đầu vào cho mô hình phân loại. Tổng cộng 18.524 pixel mẫu được sử dụng, trong đó 70% số mẫu dùng để huấn luyện và 30% dùng để đánh giá độ chính xác mô hình. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt về hiệu quả phân loại giữa các thuật toán. RF đạt độ chính xác cao nhất với độ chính xác tổng thể (OA) 90,27% và hệ số Kappa 0,880; SVM cũng cho kết quả tốt với OA đạt 88,78% và Kappa 0,862. Trong khi đó, NB cho độ chính xác thấp hơn đáng kể với OA 37,41% và Kappa 0,238. Điều này cho thấy RF và SVM có khả năng mô hình hóa tốt các mối quan hệ phi tuyến giữa các biến phổ và lớp phủ bề mặt, trong khi giả định độc lập giữa các biến đầu vào của NB chưa phù hợp với đặc trưng phổ phức tạp của dữ liệu viễn thám đa phổ. Nghiên cứu khẳng định tiềm năng của việc kết hợp dữ liệu Sentinel-2 với các thuật toán học máy trên nền tảng GEE trong phân loại và xây dựng bản đồ lớp phủ bề mặt, đồng thời cung cấp cơ sở cho việc lựa chọn thuật toán phù hợp trong các nghiên cứu viễn thám.

 

Từ khóa: Sentinel-2, phân loại lớp phủ bề mặt, Random Forest, Support Vector Machine, GEE 
 

Xem thêm

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến giá bất động sản tại phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội trong bối cảnh sát nhập chính quyền hai cấp

Bùi Thị Cẩm Ngọc1

 

1Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, Việt Nam Email tác giả liên hệ: btcngoc@vnu.edu.vn

 

https://doi.org/10.5281/zenodo.21053850

 

Tóm tắt :

 

Bài báo nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến giá bất động sản tại phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội trong bối cảnh sáp nhập đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền hai cấp. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp từ tài liệu quy hoạch, báo cáo kinh tế - xã hội và các nghiên cứu liên quan; đồng thời thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua 150 phiếu khảo sát hợp lệ trong giai đoạn tháng 3-4/2026. Dữ liệu được xử lý bằng các phương pháp kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), tương quan Pearson và hồi quy tuyến tính đa biến. Kết quả cho thấy 6 nhóm nhân tố đều có tác động thuận chiều và có ý nghĩa thống kê đến giá bất động sản. Mô hình hồi quy có R² hiệu chỉnh đạt 0,605. Theo hệ số Beta chuẩn hóa, cơ sở hạ tầng là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất (0,473; 24,05%), tiếp theo là vị trí (0,399; 20,28%), xã hội (0,350; 17,79%), cá biệt (0,298; 15,15%), kinh tế (0,232; 11,79%) và chính sách (0,215; 10,93%). Kết quả nghiên cứu gợi ý chính quyền địa phương cần ưu tiên nâng cấp hạ tầng, minh bạch hóa thông tin quy hoạch - giao dịch, hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai và điều tiết thị trường theo hướng bền vững.

 

Từ khóa: Giá bất động sản; phường Cầu Giấy; cơ sở hạ tầng; vị trí; EFA; hồi quy tuyến tính đa biến; chính quyền hai cấp. 
 

Xem thêm

Đánh giá công tác bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn xã Bình Minh, thành phố Hà Nội

Tóm tắt:

 

Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng về công tác bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện các dự án đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác này trên địa bàn xã Bình Minh, thành phố Hà Nội. Tác giả đã đánh giá kết quả bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất tại 03 dự án gồm: (1) Dự án nâng cấp, mở rộng quốc lộ 21B đoạn từ cầu Thạch Bích đến nút giao đường tỉnh lộ 427; (2) Dự án nâng cấp, mở rộng quốc lộ 21B từ ngã ba Thạch Bích đi Chương Mỹ; và (3) Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 4 – vùng thủ đô Hà Nội. Bên cạnh đó, tác giả cũng đánh giá được về công tác bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất tại các dự án trên thông qua điều tra xã hội học với 72 phiếu điều tra trong tổng số 256 đối tượng sử dụng đất có đất bị thu hồi. Theo đó, kết quả đánh giá về công tác bồi thường đạt 79,72% ở mức rất hài lòng; đánh giá về công tác hỗ trợ đạt 59,26% ở mức rất hài lòng; đánh giá về quy trình thực hiện đạt mức 79,34% ở mức rất hài lòng. Tuy nhiên, công tác bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn nghiên cứu vẫn còn một số tồn tại cần được khắc phục trong thời gian tới.

 

Từ khóa: Bồi thường, hỗ trợ, thu hồi đất, giải pháp. 
 

Xem thêm

Kết quả phân tích điều hoà thuỷ triều tại trạm hải văn Hòn Dấu

1 Viện Kỹ thuật công trình đặc biệt, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Hà Nội, Việt Nam

 

Email tác giả liên hệ: dhc963789798@gmail.com

 

https://doi.org/10.5281/zenodo.21073049

 

Tóm tắt:

 

Bài báo sử dụng phương pháp phân tính điều hoà thuỷ triều đối với chuỗi số liệu quan trắc mực nước từng năm (từ năm 1960 đến năm 2011) tại trạm nghiệm triều Hòn Dấu, Đồ Sơn, Hải Phòng. Kết quả nhận được bộ hằng số điều hoà của 13 sóng triều. Từ các giá trị thành phần biên độ hằng số điều hoà thuỷ triều thu được nhận thấy, tại vị trí nghiên cứu, năng lượng tạo ra thuỷ triều do nhóm sóng nhật triều (K1, O1, P1, Q1) chiếm ưu thế hơn nhóm sóng bán nhật triều (M2, S2, N2, K2). Các sóng triều nước nông (M4, MS6 và M6) có biên độ khá nhỏ so với nhóm sóng nhật triều, bán nhật triều và nhóm sóng triều chu kỳ dài nửa năm, một năm (Sa và Ssa); Kết quả phân tích điều hoà chuỗi số liệu quan trắc có độ dài một năm chỉ ra rằng, bộ hằng số điều hoà của các sóng bán nhật triều, sóng nhật triều ổn định hơn bộ hằng số điều hoà của các sóng triều nước nông và các sóng triều chu kỳ dài nửa năm, một năm. Thành phần biên độ của bộ hằng số điều hoà của các sóng bán nhật triều và sóng nhật triều có xuất hiện đột biến sai lệch theo chu kỳ 18-19 năm, sai lệch mang tính chu kỳ này phù hợp với chu kỳ tuần hoàn của nút quỹ đạo mặt trăng là 18,61 năm. Kiến nghị khi sử dụng phương pháp phân tích điều hoà thuỷ triều trong các nhiệm vụ khoa học - kỹ thuật yêu cầu độ chính xác cao cần phải quan tâm hiệu chỉnh sai lệch mang tính chu kỳ 18.61 năm, hoặc sử dụng chuỗi mực nước có thời gian quan trắc dài hơn. Từ khóa: Thuỷ triều; Phân tích điều hoà thuỷ triều, Hằng số điều hoà, Hòn Dấu. 
 

Xem thêm