Tạp chí Trắc địa - Bản đồ
Loading...

Nghiên cứu, ứng dụng

Ứng dụng mô hình Transformer để dự báo nồng độ bụi mịn PM2.5 tại Hà Nội trong giai đoạn 2022-2025

Tóm tắt :

Ô nhiễm không khí do bụi mịn PM2.5 đang trở thành một vấn đề môi trường nghiêm trọng tại nhiều đô thị lớn, đặc biệt ở các khu vực có tốc độ đô thị hóa nhanh. Việc dự báo chính xác nồng độ PM2.5 có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý chất lượng không khí và xây dựng các hệ thống cảnh báo ô nhiễm môi trường. Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng ứng dụng của các phương pháp học máy và học sâu trong dự báo nồng độ PM2.5 dựa trên dữ liệu chuỗi thời gian kết hợp với các yếu tố khí tượng. Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu bao gồm nồng độ PM2.5 cùng các biến khí tượng như nhiệt độ, độ ẩm và tốc độ gió tại khu vực Hà Nội. Các bước tiền xử lý dữ liệu được thực hiện bao gồm phát hiện và xử lý ngoại lai bằng phương pháp khoảng tứ phân vị (IQR), chuẩn hóa dữ liệu theo phương pháp Z-score và xây dựng các đặc trưng chuỗi thời gian. Các mô hình dự báo được xem xét gồm ARIMA, Random Forest, LSTM, GRU và Transformer. Kết quả thực nghiệm cho thấy các mô hình học sâu đạt hiệu suất dự báo cao hơn so với các phương pháp truyền thống. Trong đó, mô hình Transformer cho kết quả tốt nhất với sai số dự báo thấp và khả năng tái hiện xu hướng biến động của PM2.5 hiệu quả hơn so với các mô hình còn lại. Kết quả nghiên cứu cho thấy tiềm năng ứng dụng của các mô hình học sâu trong dự báo chất lượng không khí và cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các hệ thống cảnh báo sớm ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn.

Xem thêm

Đánh giá thực trạng công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại xã Hồng Vân, thành phố Hà Nội

Tóm tắt:

     Nghiên cứu được thực hiện tại xã Hồng Vân, thành phố Hà Nội nhằm đánh giá được thực trạng công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất tại xã Hồng Vân, thành phố Hà Nội giai đoạn 2021-2025. Bằng phương pháp thu thập, xử lý số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp, nghiên cứu đã đưa ra được một số kết quả như sau: Xã Hồng Vân sau khi sát nhập chính quyền 2 cấp có 7 cụm xã (Hồng Vân, Hà Hồi, Liên Phương, Vân Tảo, Duyên Thái, Ninh Sở, Đông Mỹ) với tổng diện tích đất tự nhiên là 2.439,35ha. Trong giai đoạn 2021 – 2025, trên địa bàn xã Hồng Vân, thành phố Hà Nội đã cấp 139 GCNQSDĐ đối với đất ở đạt tỷ lệ 92,05% và cấp được cấp được 10.690 GCNQSDĐ đối với đất nông nghiệp, đạt tỷ lệ 90,32% so với tổng số GCNQSDĐ cần cấp. Tổng số hồ sơ đăng ký biến động đất đai trên địa bàn xã đã được giải quyết và cấp Giấy chứng nhận là 1.516 hồ sơ, đạt tỷ lệ 97,18%. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy một số tồn tại: số lượng hồ sơ chưa được giải quyết vẫn còn, tập trung chủ yếu ở các trường hợp có nguồn gốc đất phức tạp, thiếu giấy tờ hoặc chưa đủ điều kiện pháp lý. Bên cạnh đó, hồ sơ địa chính qua các thời kỳ chưa đồng bộ, việc cập nhật thông tin còn chậm, gây ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết hồ sơ. Nghiên cứu đã đề xuất được 5 nhóm giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác đăng ký đất đai và cấp Giấy chứng nhận trong thời gian tới. 

Xem thêm

Đánh giá ảnh hưởng của khai thác cát đến biến đổi hình thái lòng dẫn và ổn định bờ sông Hậu khu vực Long Xuyên – Chợ Mới bằng mô hình MIKE 21 và Geo-Slope

Tóm tắt:

Hoạt động khai thác cát lòng sông trong những năm gần đây đã gây ra nhiều biến động về hình thái lòng dẫn và làm gia tăng nguy cơ sạt lở bờ sông tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu này sử dụng mô hình thủy động lực hai chiều MIKE 21 để mô phỏng chế độ dòng chảy và vận chuyển trầm tích tại đoạn sông Hậu khu vực Long Xuyên – Chợ Mới, tỉnh An Giang nhằm đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác cát đến biến đổi địa hình đáy sông. Đồng thời, mô hình địa kỹ thuật Geo-Slope/W được áp dụng để tính toán độ ổn định bờ sông dưới tác động của các kịch bản khai thác cát khác nhau. Kết quả hiệu chỉnh mô hình cho thấy sự phù hợp tốt giữa kết quả mô phỏng và số liệu thực đo với hệ số tương quan R2>0,85 đối với mực nước và R2≈0,86 đối với hàm lượng trầm tích lơ lửng (SSC). Kết quả mô phỏng cho thấy hoạt động khai thác cát có thể làm hạ thấp cục bộ địa hình đáy sông với độ sâu lớn nhất khoảng 2,5 m sau 270 ngày khai thác, tuy nhiên phạm vi biến đổi chủ yếu tập trung tại khu vực khai thác và giảm dần về phía hai bờ sông. Sau khi kết thúc khai thác, khu vực đáy sông có xu hướng được bồi lấp trở lại bởi trầm tích từ thượng nguồn và các nhánh sông lân cận. Kết quả tính toán ổn định bờ sông bằng mô hình Geo-Slope/W cho thấy hệ số an toàn nhỏ nhất đạt FSmin = 1,448–1,761, lớn hơn giá trị giới hạn thiết kế, cho thấy bờ sông vẫn đảm bảo điều kiện ổn định trong các kịch bản khai thác. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc đánh giá tác động của khai thác cát đến hình thái lòng dẫn và hỗ trợ công tác quản lý khai thác cát bền vững tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Xem thêm

Phương pháp quan trắc biến dạng trong các công trình kỹ thuật

Tóm tắt:

Bài báo khoa học này nghiên cứu mục tiêu và các nguyên lý cơ bản của công tác trắc địa công trình nhằm phát hiện biến dạng, xác định các loại và nguyên nhân gây lún, chuyển vị, đồng thời phân tích quy trình quan trắc biến dạng trong các công trình xây dựng. Nghiên cứu trình bày phương pháp dự báo chuyển động của công trình thông qua việc xác định chính xác biến dạng, chuyển vị và nguy cơ hư hỏng bằng các kỹ thuật trắc địa độ chính xác cao. Bài báo cũng đánh giá các phương pháp trắc địa hiện nay trong quan trắc biến dạng công trình thủy, đưa ra kết luận về phương pháp hiệu quả và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Xem thêm

Xây dựng dịch vụ web định vị và truy vấn thông tin ảnh vệ tinh trong kho dữ liệu lớn

Tóm tắt:

Trong những năm gần đây, dữ liệu ảnh vệ tinh ngày càng được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế và xã hội. Theo thời gian, các kho dữ liệu ảnh tích lũy đã tăng nhanh cả về số lượng và dung lượng. Điều này mang lại cho các tổ chức nghiên cứu, ứng dụng và sản xuất dữ liệu không gian địa lý nhiều cơ hội hơn để khai thác thông tin, nhưng cũng đặt ra một số thách thức trong việc quản lý chúng. Một nhu cầu cơ bản của người dùng trực tuyến là tìm kiếm, định vị và tra cứu thông tin về ảnh vệ tinh trong các kho dữ liệu mà họ quan tâm. Đóng góp chính trong nghiên cứu này bao gồm hai khía cạnh. Thứ nhất, một cách tiếp cận khoa học thực tiễn hiệu quả để thiết kế kiến trúc dữ liệu để lưu trữ dữ liệu ảnh vệ tinh và quản lý siêu dữ liệu ảnh vệ tinh dựa trên ba công nghệ: Hadoop, Hbase và PostGis đã được đề xuất và thử nghiệm. Thứ hai, một dịch vụ Web cho phép tìm kiếm và tra cứu nhanh thông tin siêu dữ liệu ảnh vệ tinh trong các kho dữ liệu lớn đã được triển khai và thử nghiệm. Các kết quả thử nghiệm trên kho ảnh Sentinel2 đã cho thấy kết quả khả quan. Ảnh vệ tinh được truy vấn và định vị trong cơ sở dữ liệu ở chế độ gần thời gian thực. Giao diện máy khách thông minh, dễ sử dụng tạo ra trải nghiệm mượt mà, API Web nhanh và liền mạch (www.geoview.vn).

Xem thêm

Ứng dụng dữ liệu viễn thám đa cảm biến để thành lập bản đồ lớp phủ đất tại hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh

Tóm tắt:

Nghiên cứu này trình bày cách tiếp cận tích hợp dữ liệu đa phổ Sentinel-2, siêu phổ PRISMA và radar COSMO-SkyMed (CSK) nhằm xây dựng bản đồ sử dụng đất/lớp phủ đất (LULC) cho hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ. Phân tích được bổ sung bằng các biến sinh học (LAI, FAPAR) và thư viện phổ thực địa để tăng cường khả năng tách biệt thảm thực vật và các bề mặt có tính chất phổ tương tự. Mô hình pha trộn phổ tuyến tính (Linear Spectral Mixture Model – LSMM) được áp dụng cho dữ liệu PRISMA nhằm giải quyết hiện tượng trộn phổ phổ biến trong môi trường ven biển. Dữ liệu CSK được dùng để nhận dạng khu vực đô thị và ao nuôi thủy sản. Kết quả phân loại cho độ chính xác tổng thể 88% (Kappa = 0,83), cho thấy hiệu quả của cách tiếp cận đa cảm biến trong mô tả cảnh quan dị thể. Phương pháp này có tiềm năng áp dụng cho các nhiệm vụ siêu phổ thế hệ mới.

Xem thêm